Đề án bảo đảm và phát triển chất lượng bệnh viện giai đoạn 2015-2020

Thứ sáu - 14/04/2017 03:16
Đề án bảo đảm và phát triển chất lượng bệnh viện giai đoạn 2015-2020
images (5)
images (5)
Ở Y TẾ LÂM ĐỒNG
BỆNH VIỆN II
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 
Số:        15 /ĐA-BVII Bảo Lộc, ngày  08   tháng  01   năm  2015

ĐỀ ÁN
Bảo đảm và phát triển chất lượng bệnh viện giai đoạn 2015 - 2020 tại Bệnh viện II Lâm Đồng
----------
Phần mở đầu
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
 
I- Sự cần thiết của đề án:
       Chất lượng khám, điều trị bệnh là vấn đề được cộng đồng và cả xã hội hết sức quan tâm, bởi nó có tác động trực tiếp đến người bệnh và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều người; đặc biệt là những người ốm đau phải nhập viện điều trị. Trong những năm gần đây Đảng, Nhà Nước và Quốc hội đã quan tâm ban hành nhiều văn bản quan trọng về công tác y tế. Gần đây Bộ Y tế đả ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12 tháng 7 năm 2013 về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện và Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành thí điểm bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.
        Thời gian qua bệnh viện II Lâm Đồng đã nỗ lực đạt được nhiều tiến bộ, tạo được niềm tin đối với người dân trong khu vực đến khám và điều trị bệnh ngày càng nhiều, tuy nhiên bệnh viện vẫn còn khó khăn về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở phòng ốc. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn của một số cán bộ viên chức còn hạn chế; trách nhiệm chuyên môn và tinh thần thái độ phục vụ người bệnh có lúc, có nơi còn biểu hiện chưa tốt,…Để từng bước nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện II Lâm Đồng trong thời gian tới, việc xây dựng đề án nâng cao chất lượng bệnh viện theo tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế đến năm 2020 là một vấn đề ưu tiên và cần thiết.
II- Căn cứ xây dựng đề án:
- Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23 tháng 01 năm 2009;
- Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008;
- Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 13 tháng 02 năm 2005 về công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
- Nghị định 43 Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, chủ trương xã hội hóa trang thiết bị y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh theo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đồng thời góp phần cải thiện đời sống của cán bộ công chức.
          - Thông tư Liên tịch Bộ Y tế, Bộ Nội Vụ số 08/2007/TTLT-BYT-BNV hướng dẫn mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước để đảm bảo nguồn nhân lực hoạt động của đơn vị.
          - Chương trình 527/Ctr-BYT của Bộ Y tế ngày 18/6/2009 về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh vì mục tiêu đáp ứng sự hài lòng của người bệnh Bảo hiểm y tế.
          - Chỉ thị 06/2007/CT-BYT ngày 07/12/2007 của Bộ Y tế “ Về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân”.
          - Chỉ thị số 05/CT-BYT về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế.
          - Quyết định số 1313/Q Đ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn quy trình khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh của Bệnh viện
          - Thực hiện Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn thực hiện Quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện.
          - Căn cứ Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
III- Phạm vi lập đề án:
       - Đề án tổng thể này tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến các tiêu chí chất lượng bệnh viện ban hành theo quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Dữ liệu sử dụng để xây dựng đề án là kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện năm 2014 do Sở Y tế Lâm Đồng thực hiện.
       - Đề án đề cập những vấn đề chung mang tính định hướng cho công tác nâng cao chất lượng bệnh viện trong phạm vi bệnh viện. Những vấn đề cụ thể trên từng tiêu chí như: thực hiện bằng cách nào, thời gian nào hoàn thành…sẽ do các khoa, phòng, các đơn vị cụ thể hóa thành kế hoạch để thực hiện đề án này.
IV- Đối tượng thực hiện:
        Tất cả cán bộ viên chức bệnh viện, bệnh nhân và thân nhân người bệnh đều là đối tượng thực hiện các hoạt động nâng cao chất lượng tại bệnh viện II Lâm Đồng. 
 
Phần thứ nhất
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN.
 
I. THỰC TRẠNG PHẦN A: HƯỚNG ĐẾN NGƯỜI BỆNH.
         1. Về chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn, cấp cứu người bệnh: bệnh viện đã có hệ thống chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn người bệnh đến khám bệnh và cấp cứu với hệ thống bảng hiệu bệnh viện, bảng hiệu khoa, phòng, sơ đồ chỉ dẫn và nhân viên tiếp đón ở các khoa; tuy nhiên hệ thống này còn nhiều hạn chế, bảng biểu chưa hoàn chỉnh, chưa có hệ thống, vẫn còn tình trạng bệnh nhân và thân nhân còn lúng túng khi vào bệnh viện, các khoa; có lúc, có nơi bệnh nhân chưa được hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo; phòng chờ khám bệnh còn chật chội thiếu tiện nghi nhất là khu vực chờ khám mắt, TMH; cấp cứu người bệnh còn thiếu nhiều phương tiện, hệ thống oxy trung tâm chưa phục vụ đủ cho tất cả các khoa phòng đặc biệt là phòng cấp cứu.
          2. Về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh: bệnh viện đảm bảo bệnh nhân được nằm mỗi người một giường, buồng vệ sinh ở các khoa bảo đảm phục vụ người bệnh, hợp vệ sinh, người bệnh nội trú được cấp một số dụng cụ sinh hoạt cá nhân, cung cấp một số tiện nghi sinh hoạt; tuy nhiên vẫn còn tình trạng bệnh nhân nằm giường tạm, nằm hành lang, giường bệnh các khoa chưa đồng nhất; các buồng vệ sinh chưa đầy đủ bồn rửa tay, thiếu xà phòng, dung dịch rửa tay, thiếu giấy vệ sinh; chưa đủ tủ đầu giường cho từng bệnh nhân, chưa đủ ghế ngồi cho người chăm sóc bệnh; chưa đủ quần áo cho bệnh nhân nằm nội trú; phòng tắm thiếu vòi sen; các khoa, phòng chưa có đường dành cho người khuyết tật đi xe lăn.
          3. Về môi trường chăm sóc người bệnh: môi trường bệnh viện có sân, có cây xanh; khoa, phòng gọn gàng, ngăn nắp; tuy nhiên các khoa phòng xuống cấp, nền gạch bong nhiều nơi, khuôn viên bệnh viện chưa thật sự mỹ quan, thiếu vườn hoa, đài phun nước; chưa có đầy đủ tủ giữ đồ đạc, tư trang bệnh nhân còn phải tự giữ.
          4. Về việc thực hiện quyền và lợi ích của người bệnh: người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện được giải thích về tình trạng bệnh tật và hướng điều trị; những vấn đề riêng tư của người bệnh được tôn trọng; nộp viện phí thuận tiện, công khai, minh bạch; các trang thiết bị y tế xã hội hóa của bệnh viện giúp người bệnh được hưởng các kỹ thuật hiện đại hơn, tốt hơn; các ý kiến góp ý của người bệnh và thân nhân người bệnh được bệnh viện tiếp nhận, phản hồi, giải quyết kịp thời. Tình trạng ý kiến phản ánh, phiền hà về tinh thần thái độ không tốt ngày càng giảm; hàng năm bệnh viện tiến hành thực hiện đánh giá sự hài lòng và triển khai các biện pháp làm tăng sự hài lòng của người bệnh. Tuy nhiên, việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị chưa thực hiện đầy đủ; giường của người bệnh chưa có đủ rèm che chắn, người bệnh chưa có khu vực cách ly tương đối yên tĩnh; chưa có website để đăng thông tin giá dịch vụ y tế, giá thuốc, vật tư, bệnh viện chưa thanh toán viện phí bằng thẻ tín dụng; giải quyết thắc mắc, khiếu nại chưa phân tích được các nhóm vấn đề, chưa phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh; bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh chưa xây dựng đồng bộ toàn bệnh viện và có tính khách quan, độ tin cậy chưa cao, chưa phân tích sự hài lòng của người bệnh theo các khoa.
II. THỰC TRẠNG PHẦN B: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.
          1. Về số lượng và cơ cấu nhân lực của bệnh viện: nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của bệnh viện nên bệnh viện luôn chú ý phát triển nguồn nhân lực bệnh viện; trong quy hoạch dài hạn cũng như kế hoạch hàng năm đều đề cập đầy đủ các nội dung liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, thực hiện chế độ đãi ngộ cán bộ y tế đầy đủ theo luật định; duy trì khá ổn định nguồn nhân lực; đã xem xét cơ cấu chức danh nghề nghiệp cần thiết cho hoạt động bệnh viện, đã xây dựng đề án vị trí việc làm. Tuy nhiên, bệnh viện chưa đạt được mục tiêu, chỉ số theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực chưa phù hợp, còn thiếu bác sĩ; chưa thực hiện làm việc theo ca, kíp ở các khoa cần thiết như Hồi sức, Hậu phẫu, còn nhân viên thường trực 24/24; chưa đủ nhân lực để thành lập phòng quản lý chất lượng bệnh viện, phòng đào tạo liên tục nên tính chuyên nghiệp trong quản lý chưa cao.
          2. Về chất lượng nguồn nhân lực: bệnh viện quan tâm đào tạo và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho cán  bộ, viên chức bệnh viện theo kế hoạch đào tạo, đào tạo lại hàng năm; xây dựng và triển khai kế hoạch nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử, y đức cho nhân viên y tế; bệnh viện có chính sách hỗ trợ cho nhân viên được cử đi đào tạo, bố trí phù hợp sau đào tạo, tạo thu nhập ổn định để thu hút, duy trì nguồn nhân lực y tế có chất lượng. Tỷ lệ bác sĩ được đào tạo sau đại học khá cao. Tuy nhiên, chưa tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho bác sĩ, dược sĩ…các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo còn hạn chế. Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện chưa thiết thực và hiệu quả, vẫn còn ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt. Cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng chưa phát huy hiệu quả.
          3. Về chế độ đãi ngộ và điều kiện, môi trường làm việc: bệnh viện xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ được hội nghị hàng năm cán bộ viên chức thống nhất cao; nhân viên bệnh viện được hưởng đầy đủ chế độ tiền lương và phụ cấp theo đúng quy định của Nhà nước; thu nhập tăng thêm khá ổn định. Trang thiết bị y tế của bệnh viện cơ bản phục vụ tốt công tác chuyên môn; nhân viên bệnh viện được cung cấp đủ dụng cụ bảo hộ; tổ chức hội nghị khoa học hàng năm, tạo điều kiện cho cán bộ viên chức học tập cập nhật kiến thức. Tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho toàn bộ nhân viên bệnh viện, có hồ sơ quản lý sức khỏe. Nhân viên được nghỉ phép theo đúng quy định, có tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho nhân viên. Tổ chức các phong trào văn nghệ, thể thao trong các dịp lễ, tết. Quy định và thực hiện các hình thức thi đua, khen  thưởng, tạo động lực khuyến khích nhân viên làm việc. Tuy nhiên mức thu nhập tăng thêm chưa cao; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động chưa thật sự  hoàn thiện; hoạt động văn nghệ thể thao chưa thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe chưa được quản lý bằng công nghệ thông tin; chưa tổ chức khảo sát, đánh giá nhân viên về môi trường làm việc.
        4. Về xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển bệnh viện và công bố công khai: bệnh viện xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết hàng năm và kế hoạch tổng thể đến năm 2020 và triển khai hoạt động với các giải pháp theo đúng kế hoạch; các văn bản liên quan đến hoạt động bệnh viện được phổ biến, triển khai tới tất cả cán bộ, viên chức bệnh viện; có tiêu chuẩn, quy trình cụ thể việc tuyển dụng; bổ nhiệm các vị trí quản lý trong bệnh viện công khai, minh bạch, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh từ bằng B trở lên đạt khá cao; thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý và bổ nhiệm theo quy hoạch. Tuy nhiên, quy hoạch dài hạn của bệnh viện chưa được phê duyệt và công khai, việc mở rộng quy mô bệnh viện gặp khó khăn do tình hình số lượng và chất lượng nhân lực, nâng cấp, thực hiện các kỹ thuật cao còn hạn chế; một số văn bản triển khai, thực hiện chưa tốt, chưa có quy định về đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản; lãnh đạo bệnh viện, khoa, phòng còn kiêm nhiệm nhiều công việc; một số cán bộ quản lý chưa đủ năng lực về tin học, ngoại ngữ, quản lý nhà nước nhằm đáp ứng cho công việc.
 
 
III. THỰC TRẠNG PHẦN C: HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN.
        1. Bảo đảm an ninh trật tự bệnh viện: bệnh viện có lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp trực thường xuyên, khuôn viên bệnh viện có tường rào bao quanh, có quy định hạn chế người nhà người bệnh vào khu vực chuyên môn trong các giờ quy định; có văn bản phối hợp với cơ quan an ninh địa phương, có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện trộm cắp, cướp giật trong khu vực bệnh viện. Bảo đảm an toàn điện và phòng chống cháy nổ với phân công nhân viên chuyên trách an toàn điện và phòng chống cháy nổ; có phương án phòng chống cháy nổ, có hệ thống báo cháy, cửa thoát hiểm, họng nước cứu hỏa, có tham gia bảo hiểm cháy nổ. Tuy nhiên bệnh viện chưa có hệ thống camera an ninh tự động nhằm theo dõi toàn bệnh viện; tình trạng mất trộm thỉnh thoảng vẫn xảy ra đối với bệnh nhân nằm viện. chưa trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế, hệ thống báo cháy tự động chưa đầy đủ tất cả các khoa, phòng.
         2. Quản lý hồ sơ bệnh án: hồ sơ bệnh án được quản lý khá tốt; các thông tin về chăm sóc và điều trị người bệnh được ghi vào hồ sơ, thông tin đầy đủ theo quy định, không sữa chữa, tẩy xóa, hồ sơ bệnh án được kiểm tra, đánh giá thường quy; các thông tin mã bệnh được mã hóa chính xác theo ICD. Bệnh án được lưu trữ tập trung, có giá sắp xếp theo trật tự thống nhất dễ tìm kiếm. Tuy nhiên kho hồ sơ bệnh án còn chật hẹp; bệnh viện chưa thực hiện bệnh án điện tử, chưa cập nhật bệnh án qua mạng nội bộ; bệnh nhân chưa được mã hóa, các thông tin chưa được lưu trữ toàn bộ trên hệ thống máy tính.
         3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Quản lý khá tốt cơ sở dữ liệu và thông tin y tế. Có hệ thống danh mục thống nhất toàn bệnh viện về giá dịch vụ kỹ thuật cho tất cả đối tượng người bệnh, áp dụng phần mềm báo cáo thống kê bệnh viện; áp dụng hệ thống mã hóa lâm sàng theo quy định của Bộ Y tế. Thực hiện các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động chuyên môn; bệnh viện có tổ công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống máy tính nối mạng nội bộ và ứng dụng phần mềm quản lý chuyên môn trên mạng đến tất cả các khoa, phòng. Tuy nhiên các chỉ số thông tin bệnh viện chưa được đánh giá, kết xuất trực tiếp từ phần mềm một cách chi tiết theo cơ cấu tài chính, thuốc, vật tư theo ngày, tuần, tháng, quý. Chưa có công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo. Chưa áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; chưa có phần mềm kết nối các máy y tế; chưa kết xuất số liệu tự động từ các phần mềm khác; chưa đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế; chưa có phần mềm dịch vụ khám chữa bệnh từ xa.
         4. Phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn: đã thành lập hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, tổ kiểm soát nhiễm khuẩn và mạng lưới nhiễm khuẩn bệnh viện; xây dựng quy chế hoạt động của hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, có nhân viên chuyên trách cho công tác nhiễm khuẩn; hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn hoạt động thường xuyên theo kế hoạch. Các nhân viên của tổ kiểm soát nhiễm khuẩn được tham gia các lớp đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn; các thành viên của mạng lưới được tham gia huấn luyện cập nhật chuyên môn về kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng và ban hành các hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn; có quy trình xử lý các trường hợp rủi ro, phơi nhiễm với các bệnh nguy hiểm hoặc nguy cơ nhiễm khuẩn cao; có hệ thống khử khuẩn tập trung. Đã triển khai thực hiện chương trình rửa tay; có các bản hướng dẫn rửa tay tại các bồn rửa tay. Có phân công nhân viên kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng kế hoạch giám sát nhiễm khuẩn trong phạm vi bệnh viện. Thực hiện phân loại chất thải y tế; có trang bị túi, thùng để thu gom chất thải y tế; thực hiện xử lý chất thải rắn y tế theo quy định. Có hệ thống xử lý chất thải lỏng và hoạt động thường xuyên; các chỉ tiêu đầu ra của nước thải đạt quy chuẩn về môi trường. Tuy nhiên tổ kiểm soát nhiễm khuẩn chưa đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát việc thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện chưa thường xuyên; chưa cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn; chưa xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Chưa tiến hành nghiên cứu về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; chưa tính được tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhà lưu trữ rác chưa đạt chuẩn quy định. Chất thải lỏng sau khi xử lý chưa thể tái sử dụng.
         5. Năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn: bảo đảm xác định chính xác người bệnh khi cung cấp dịch vụ, thực hiện các hình thức thủ công như ghi tên, tuổi, địa chỉ, ghi sổ, phát sổ cho người bệnh và các mẫu bệnh phẩm, thuốc, vật tư… có liên quan đến người bệnh để tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ. Bệnh viện có chủ trương phát triển, thực hiện các kỹ thuật theo đúng phân tuyến và công bố công khai cho nhân viên y tế, người bệnh và người dân. Bệnh viện  xây dựng kế hoạch triển khai kỹ thuật mới của bệnh viện hàng năm, trong đó áp dụng một số kỹ thuật mới, hiện đại. Bệnh viện phê duyệt và áp dụng đúng như hướng dẫn quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế và sử dụng thống nhất trong toàn bệnh viện. Bệnh viện có các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế có sẵn tại các khoa, phòng. Ban hành các quy định về việc áp dụng các phác đồ điều trị và theo dõi việc tuân thủ phổ biến đến tất cả nhân viên y tế. Tuy nhiên người bệnh chưa được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến còn thấp dưới 60%; chưa tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị chưa được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Chưa tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
        6. Hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh: Đã thiết lập hệ thống tổ chức điều dưỡng chặt chẽ trong bệnh viện gồm phòng điều dưỡng, hội đồng điều dưỡng và các điều dưỡng trưởng khoa. Có tài liệu cập nhật nội dung về nội dung hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe; các quy định có sẵn tại khoa, phòng; nhân viên y tế thực hiện đầy đủ các quy định. Bệnh viện có quy định cụ thể về chăm sóc thể chất và vệ sinh cá nhân cho người bệnh; Nhân viên y tế hướng dẫn người nhà cách chăm sóc người bệnh. Việc chăm sóc người bệnh cấp I chủ yếu do điều dưỡng thực hiện. Hệ thống lan can và chấn song cửa sổ được thiết kế để người bệnh không bị té ngã do vô ý; các vị trí có nguy cơ trượt, vấp ngã được ưu tiên xử lý. Có biển báo, hướng dẫn người bệnh cách gọi nhân viên y tế trong trường hợp khẩn cấp tại những vị trí dễ quan sát. Tuy nhiên điều dưỡng chưa thực hiện việc tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với bệnh khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện; chưa thực hiện các chăm sóc như cho ăn uống, vận động, phục hồi chức năng do điều dưỡng/hộ lý thực hiện cho người bệnh có nhu cấu; người bệnh chăm sóc cấp I chưa được điều dưỡng chăm sóc toàn bộ; chưa hỗ trợ chăm sóc thể chất và vệ sinh cá nhân cho người bệnh. Chưa dán các vật liệu tăng ma sát ở các vị trí có nguy cơ trượt ngã; chưa có đầy đủ giường bệnh an toàn. Chưa có hệ thống ôxy trung tâm cho khoa cấp cứu; chưa có hệ thống camera hoặc đầy đủ cán bộ y tế theo dõi bệnh nhân  24/24 đối với buồng bệnh cấp cứu.
        7. Năng lực thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và tiết chế: Nhân viên y tế có tư vấn chế độ ăn phù hợp cho người bệnh. Người bệnh được cân nặng, đo chiều cao và được ghi vào hồ sơ bệnh án, có y lệnh chế độ ăn trong hồ sơ bệnh án, có bếp ăn từ thiện hoạt động tốt. Tuy nhiên bệnh viện chưa có khoa dinh dưỡng, bộ phận chế biến thức ăn bếp từ thiện chưa thiết kế một chiều; chưa có tủ bảo quản thức ăn; chưa có bác sĩ dinh dưỡng khám, đánh giá khoa dinh dưỡng chưa hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát chế độ dinh dưỡng tại các khoa điều trị; việc cung cấp suất ăn bệnh lý chưa đầy đủ.
         8. Chất lượng xét nghiệm: Phòng xét nghiệm được xây dựng độc lập, có đầy đủ nhân sự và trang thiết bị bảo đảm thực hiện các hoạt động xét nghiệm huyết học, hóa sinh, vi sinh; có cán bộ xét nghiệm trình độ sau đại học, đã thiết lập hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm, đã thực hiện được giải phẫu bệnh; tuy nhiên phòng xét nghiệm chưa tham gia tư vấn về quản lý chất lượng phòng xét nghiệm cho đơn vị khác; chưa có hoạt động thống kê, phân tích và tính độ lệch chuẩn về chất lượng các xét nghiệm.
         9. Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc: khoa dược đã được thành lập và phụ trách khoa có trình độ đại học; khoa có các hoạt động thông tin, cấp phát thuốc, kho bảo quản, quản lý xuất nhập, tồn thuốc; khoa có quy trình cấp phát thuốc trong bệnh viện từ khoa dược đến người bệnh; có xây dựng và quản lý danh mục thuốc cấp cứu; báo cáo thường xuyên các số liệu về sử dụng thuốc. Thực hiện tốt quy chế kê đơn có xây dựng các quy trình chuyên môn liên quan  đến sử dụng thuốc; có hướng dẫn sử dụng thuốc cho điều dưỡng, cán bộ y tế bệnh viện. Có thực hiện việc thông tin thuốc, giám sát ADR. Hội đồng thuốc và điều trị được thiết lập và có các hoạt động như xây dựng danh mục thuốc, xây dựng hướng dẫn điều trị, phân tích vấn đề sử dụng thuốc trong các buổi bình bệnh án, tổ chức tập huấn, đào tạo về sử dụng thuốc cho nhân viên y tế. Tuy nhiên, phụ trách khoa dược chưa có trình độ sau đại học, chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc; chưa kiểm soát hoàn toàn lượng thuốc thông qua hệ thống phần mềm quản lý của bệnh viện, chưa có phòng pha chế thuốc; chưa theo dõi được nồng độ thuốc trong máu, chưa có phần mềm theo dõi và quản lý lịch sử dùng thuốc của người bệnh. Bệnh viện chưa có hệ thống lưu trữ thông tin thuốc, chưa xây dựng và phát hành bản thông tin thuốc lưu hành trong bệnh viện. Chưa xây dựng đầy đủ các văn bản quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện.    
          10. Nghiên cứu khoa học: bệnh viện đã tích cực triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học. Có đầy đủ các phương tiện và hoạt động được phục vụ trình chiếu, báo cáo khoa học; có tiến hành sinh hoạt khoa học định kỳ hàng tháng; có tiến hành thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và báo cáo kết quả nghiên cứu. Có kế hoạch triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu của bệnh viện để cải tiến hoạt động bệnh viện. Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu chưa được đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài  nước; chất lượng triển khai kết quả các đề tài nghiên cứu chưa cao.
 
IV. THỰC TRẠNG PHẦN D: CẢI TIẾN CHẤT LƯỢNG.
          1. Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện: đã thành lập hội đồng, tổ và mạng lưới quản lý chất lượng bệnh viện. Đã xây dựng quy chế hoạt động của hội đồng chất lượng; tổ chất lượng bệnh viện có đầy đủ thành viên theo cơ cấu, hoạt động đều; xây dựng và ban hành các văn bản về quản lý chất lượng trong bệnh viện; xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng chung cho toàn bệnh viện đầy đủ và cụ thể; xây dựng đề án nâng cao chất lượng bệnh viện; đã xây dựng logo và slogan của bệnh viện, xây dựng các phong trào nâng cao chất lượng. Tuy nhiên bệnh viện chưu lập website, nhân viên của tổ quản lý chất lượng chưa được đào tạo về quản lý chất lượng; chưa lượng giá các kết quả đầu ra cụ thể.
          2. Phòng ngừa các sai sót, sự cố và khắc phục: đã thực hiện báo cáo sai sót, sự cố xảy ra theo quy định. Có các bảng kiểm trong phòng mổ và phòng làm thủ thuật; có quy định kiểm tra lại thuốc trước khi đưa cho người bệnh; kiểm tra các quy trình kỹ thuật, không để xảy ra sự cố, sai sót nghiêm trọng ảnh hưởng đến người bệnh. Tuy nhiên quản lý sai sót sự cố chưa theo hệ thống riêng; chưa có trường hợp tự báo cáo sai sót. Chưa có báo cáo đánh giá về sai sót, sự cố và phân tích xu hướng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế sai sót, sự cố.
         3. Đánh giá, đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng: đã tiến hành tự đánh giá chất lượng bệnh viện theo tiêu chí của Bộ Y tế; công bố và phổ biến kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện cho tất cả các khoa, phòng; báo cáo kết quả có phân tích rõ mặt mạnh, mặt yếu. Có kế hoạch cải tiến chất lượng, trong bản kế hoạch có xây dựng 5 chỉ số chất lượng cụ thể. Tiến hành đo lường và giám sát kế hoạch chất lượng dựa trên bản kế hoạch. Gửi đầy đủ số lượng các báo cáo liên quan đến hoạt động quản lý chất lượng theo yêu cầu của cấp trên, đầy đủ thông tin, trung thực, chính xác. Tuy nhiên kết quả tự đánh giá sai số trên 5% so với ngoại kiểm.
 
V. THỰC TRẠNG PHẦN E: TIÊU CHÍ ĐẶC THÙ CHUYÊN KHOA.
         1. Tiêu chí sản khoa, nhi khoa: đã thành lập khoa sản, có bác sĩ chuyên khoa sản cấp II, có đơn nguyên hồi sức và cấp cứu sơ sinh; có khoa nhi và bác sĩ chuyên khoa I nhi. Thực hiện tư vấn về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước sinh, sau sinh cho phụ nữ mang thai; truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản. Quy định về việc nuôi con bằng sữa mẹ; tuyên truyền, hướng dẫn các bà mẹ không sử dụng bình bú, sữa thay thế sữa mẹ; tuyên truyền tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ; cho mẹ nằm cùng trẻ sau sinh. Tuy nhiên chưa có khoa sơ sinh riêng biệt; chưa có bác sĩ chuyên khoa II hay tiến sĩ về nhi; chưa làm tờ rơi miễn phí tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản; chưa tổ chức lớp học tiền sản, hậu sản; chưa thành lập được phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản.
  
Phần thứ hai
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU.
 
I. QUAN ĐIỂM.
       Nâng cao chất lượng bệnh viện là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn thể các khoa, phòng, các đơn vị và toàn thể cán bộ viên chức bệnh viện; trong đó Đảng ủy và Ban Giám đốc bệnh viện đóng vai trò lãnh đạo, điều hành; Công đoàn cơ sở và Đoàn Thanh niên đóng vai trò nòng cốt trong việc vận động cán bộ viên chức tham gia. Các khoa, phòng, đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện.
       Tiến hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và mang lại sự hài lòng cao nhất có thể cho người bệnh, người dân và nhân viên bệnh viện, phù hợp với khả năng, điều kiện của bệnh viện.
II. MỤC TIÊU.
1. Mục tiêu chung:
      Tiếp tục xây dựng hệ thống khám bệnh, chữa bệnh theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện, làm tăng sự hài lòng của người bệnh.
2. Mục tiêu cụ thể:
       - Người bệnh được chỉ dẫn rõ ràng, đón tiếp hướng dẫn cụ thể; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh ngày càng tốt hơn; người bệnh được hưởng nhiều quyền lợi và lợi ích trong quá trình  điều trị tại bệnh viện.
       - Xây dựng bệnh viện phát triển toàn diện về số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực; chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ viên chức bệnh viện được cải thiện.
       - Cải thiện các mặt hoạt động chuyên môn của bệnh viện gồm an ninh trật tự và an toàn cháy nổ; quản lý hồ sơ bệnh án; ứng dụng công nghệ thông tin; phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn; năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn; hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh; dinh dưỡng và tiết chế; chất lượng bệnh viện; quản lý và cung ứng thuốc.
      - Hoạt động cải tiến chất lượng bệnh viện được duy trì và triển khai hoạt động ngày càng hiệu quả; cải thiện dần chất lượng từ mức trung bình lên mức khá và đạt mức tốt. Phấn đấu xếp loại chất lượng hàng đầu của Tỉnh.
      - Cải thiện chất lượng các đặc thù chuyên khoa sản, nhi và có một số khoa điều trị chuyên biệt như ngoại niệu, ngoại chấn thương chỉnh hình, lão khoa, nội tim mạch.
III. KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN II LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2020.
        Với kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện năm 2014 đạt 191 điểm, đạt mức trung bình theo xếp loại chất lượng bệnh viện; trong đó vẫn còn 17 tiêu chí mức 1; 34 tiêu chí mức 2; 22 tiêu chí mức 3 và 10 tiêu chí mức 4; Bệnh viện xây dụng kế hoạch xây dựng chất lượng bệnh viện đến năm 2020 cụ thể như sau:
        - Năm 2015-2016: giảm 50% tiêu chí mức 1, giảm 50% tiêu chí mức 2, tăng tiêu chí mức 3, 4 và phấn đấu một số tiêu chí đạt mức 5, phấn đấu đạt mức chất lượng khá theo xếp loại, đứng trong tốp đầu các bệnh viện của Tỉnh.
       - Năm 2017-2018: không còn tiêu chí mức 1 và 2; tăng tỷ lệ tiêu chí mức 4 và mức 5, đạt loại khá tiệm cận với mức xếp loại chất lượng tốt, duy trì thứ hạng tốp đầu trong Tỉnh.
       - Năm 2019-2020: toàn bộ các tiêu chí đạt từ mức 3 trở lên, trong đó tỷ lệ tiêu chí đạt mức 4 và 5 chiếm từ 20% trở lên, xếp loại chất lượng tốt và duy trì mức chất lượng này cùng với xếp hạng trong Tỉnh.
 
IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CỤ THỀ.
1. Lãnh đạo thực hiện công tác tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận chức năng, các khoa, phòng thực hiện đề án một cách đồng bộ, hiệu quả.
        Để tiến hành nâng cao chất lượng bệnh viện theo bộ tiêu chí của Bộ Y tế, cần ổn định công tác tổ chức, thực hiện các nội dung của bộ tiêu chí, có phân công phân nhiệm cụ thể:
       - Hội đồng chất lượng bệnh viện: Phát hiện các vấn đề, các nguy cơ tiềm ẩn đối với an toàn người bệnh, xác định các hoạt động ưu tiên và đề xuất các đề án đảm bảo, cải tiến chất lượng và an toàn người bệnh với Giám đốc Bệnh viện. Giúp cho Giám đốc triển khai bộ tiêu chí, tiêu chuẩn quản lý chất lượng do Bộ Y tế ban hành. Tham gia tổ chức thực hiện việc áp dụng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng, đánh giá nội bộ chất lượng bệnh viện và thông qua báo cáo chất lượng bệnh viện. Hỗ trợ kỹ thuật cho các khoa, phòng để triển khai các hoạt động cải tiến chất lượng do giám đốc bệnh viện phê duyệt.
       - Tổ hoặc phòng quản lý chất lượng bệnh viện: Bước đầu là tổ quản lý chất lượng bệnh viện hoạt động kiêm nhiệm tiến tới thành lập phòng chất lượng bệnh viện hoạt động độc lập có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và nội dung quản lý chất lượng trong bệnh viện để trình giám đốc phê duyệt. Tổ chức thực hiện, theo dỏi, giám sát, đánh giá, báo cáo, phối hợp, hỗ trợ việc triển khai các hoạt động về quản lý chất lượng và các đề án bảo đảm, cải tiến chất lượng tại các khoa, phòng. Làm đầu mối thiết lập hệ thống quản lý sai sót, sự cố bao gồm phát hiện, tổng hợp, phân tích, báo cáo và nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc phục. Làm đầu mối phối hợp với các khoa, phòng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và các vấn đề liên quan đến hài lòng người bệnh. Thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu, quản lý và bảo mật thông tin liên quan đến chất lượng bệnh viện; phối hợp với bộ phận thống kê, tin học của bệnh viện tiến hành đo lường chỉ số chất lượng bệnh viện. Triển khai hoặc phối hợp tổ chức đào tạo. huấn luyện, tập huấn, bồi dưỡng về quản lý chất lượng. Tổ chức đánh giá chất lượng nội bộ của bệnh viện dựa trên tiêu chí của Bộ Y tế ban hành. Thực hiện đánh giá việc tuân thủ các quy định của Bộ Y tế và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình an toàn người bệnh.
       - Mạng lưới quản lý chất lượng bệnh viện: Mỗi khoa, phòng, đơn vị (gọi tắt là đơn vị) của bệnh viện cử ít nhất hai nhân viên kiêm nhiệm tham gia mạng lưới chất lượng bệnh viện. Nhiệm vụ làm đầu mối giúp lãnh đạo đơn vị triển khai, thực hiện, theo dõi các hoạt động liên quan đến quản lý chất lượng bệnh viện; thực hiện các kế hoạch hoạt động của mạng lưới chất lượng bệnh viện tại đơn vị; tham gia kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện theo phân công của hội đồng quản lý chất lượng bệnh viện.
       - Ban Giám đốc bệnh viện: Có kế hoạch phát triển nhân lực bệnh viện, bảo đảm việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển nhân lực. Chỉ đạo các đơn vị thuộc bệnh viện xây dựng cơ cấu chức danh nghề nghiệp dựa vào vị trí việc làm trong đề án vị trí việc làm. Tạo điều kiện cho nhân viên cập nhật kiến thức chuyên môn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và sức khỏe. Xác định chiến lược, quy hoạch phát triển bệnh viện và xậy dựng kế hoạch; xây dựng tầm nhìn mang tính dài hạn, có chiến lược, quy hoạch phát triển và có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn nhằm đạt được mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, duy trì và phát triển bệnh viện. Bảo đảm nguồn nhân lực quản lý bệnh viện, có tiêu chuẩn, quy trình, tiêu chí cụ thể về tuyển dụng, bổ nhiệm các vị trí quản lý trong bệnh viện. Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ lãnh đạo kế cận, thực hiện quy hoạch các vị trí lãnh đạo, quản lý để bảo đảm sự duy trì điều hành hoạt động và phát triển liên tục của bệnh viện. Chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản được các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
      - Phòng Tổ chức-Cán bộ: Đề xuất việc tuyển dụng, bố trí, luân chuyển, đề bạt, quy hoạch, xếp thang bậc lương, lên lương, khen thưởng, kỷ luật nhân sự theo chỉ đạo của Ban Giám đốc. Làm đầu mối triển khai thực hiện đề án vị trí việc làm. Quản lý hồ sơ cán bộ, viên chức. Phối hợp với phòng KHTH đề xuất kế hoạch đào tạo hàng năm.
       - Phòng Kế hoạch Tổng hợp: Đề xuất kế hoạch đào tạo và đào tạo lại về chuyên môn hàng năm. Làm đầu mối quản lý việc làm hồ sơ bệnh án của các khoa lâm sàng; lưu trữ quản lý tốt hồ sơ bệnh án. Cập nhật, thống kê các dữ liệu, số liệu chuyên môn để báo cáo, lưu trữ thông tin theo quy định. Làm đầu mối xây dựng các hướng dẫn chuyên môn và phác đồ điều trị; xây dựng các phác đồ điều trị nhằm cụ thể hóa các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế. Có biện pháp giám sát việc áp dụng các phác đồ điều trị đã ban hành và giám sát việc tuân thủ của nhân viên y tế. Quản lý việc ghi chép hồ sơ bệnh án của các bác sỹ điều trị. Xây dựng hệ thống báo cáo, tổng hợp, phân tích sai sót và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để khắc phục, giảm thiểu các sai sót, sự cố. Gửi đầy đủ các báo cáo thông tin liên quan đến chuyên môn đến các cấp theo quy định.
       - Phòng Hành chính quản trị: Làm các biển báo, bảng hướng dẫn người bệnh. Làm đầu mối đề nghị sữa chữa cơ sở hạ tầng; cung cấp, bảo trì, sữa chữa giường, các trang thiết bị y tế, dụng cụ sinh hoạt của người bệnh và nhân viên y tế cho các khoa, phòng. Xây dựng môi trường, cảnh quan bệnh viện theo quy hoạch. Tiếp nhận, quản lý các văn đến và đi; trình Ban Giám đốc xử lý các văn bản đến.     
       - Phòng Điều Dưỡng: Phụ trách đội ngũ điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên toàn bệnh viện (gọi chung là điều dưỡng). Hướng dẫn điều dưỡng các khoa cung cấp thông tin, giải thích cho người bệnh trong quá trình điều trị. Làm đầu mối xây dựng đề án vị trí việc cho đội ngũ điều dưỡng toàn bệnh viện. Có kế hoạch đào tạo, tập huấn để phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho điều dưỡng. Tổ chức sinh hoạt khoa học định kỳ cho đội ngũ điều dưỡng. Quản lý việc ghi chép hồ sơ bệnh án của điều dưỡng. Xây dựng các quy trình kỹ thuật thông qua hội đồng KHKT bệnh viện và giám sát việc thực hiện các quy trình. Xây dựng quy định về xác nhận và khẳng định đúng người bệnh. Làm đầu mối đề xuất việc học tập nâng cao trình độ, chuẩn hóa điều dưỡng toàn viện. Xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh. Giám sát việc nguời bệnh được điều dưỡng hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe phù hợp với bệnh đang được điều trị. Triển khai thực hiện việc điều dưỡng chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh trong quá trình điều trị tại bệnh viện. Phối hợp với phòng Tổ chức và các khoa lâm sàng thực hiện khảo sát, đánh giá sự hài lòng người bệnh định kỳ và tìm các giải pháp can thiệp.
       - Phòng Tài chính-Kế toán: Tổ chức thu nộp viện phí cho người bệnh thuận tiện, công khai, minh bạch, chính xác; công bố giá viện phí và các dịch vụ tại khu vực khám, điều trị và nơi thu viện phí. Thực hiện chi trả tiền lương, chế độ phụ cấp cho cán bộ viên chức bệnh viện đúng quy định.
       - Tổ Công nghệ Thông tin: Quản lý tốt cơ sở dữ liệu và thông tin y tế; triển khai ứng dụng các phần mềm về chuyên môn nghiệp vụ, báo cáo thống kê, Bảo đảm  duy trì tốt hệ thống mạng nội bộ bệnh viện, xây dựng và duy trì hoạt động Webside cho bệnh viện.
       - Hội đồng KHKT bệnh viện: Cùng Hội đồng thuốc và điều trị, cùng phòng KHTH xây dựng các hướng dẫn điều trị và các quy trình kỹ thuật cho các khoa phòng, xác định đúng loại dịch vụ sẽ cung cấp cho người bệnh; bảo đảm chính xác người bệnh khi cung cấp dịch vụ. Xây dựng danh mục kỹ thuật bệnh viện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố công khai cho nhân viên y tế, người bệnh và người dân biết. Xây dựng kế hoạch/đề án triển khai kỹ thuật mới của bệnh viện. Triển khai giám sát chất lượng kỹ thuật. Chủ trì triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học. Làm đầu mối triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động bệnh viện và các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
       - Hội đồng Kiểm soát Nhiễm khuẩn: Thiết lập và hoàn thiện hệ thống mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn viện. Xây dựng và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện. Triển khai chương trình và giám sát tuân thủ rửa tay. Đánh giá, giám sát và triển khai kiểm soát nhiễm khuẩn; xác định được thực trạng, tiến hành các hoạt động can thiệp và giảm lây nhiễm cho nhân viên y tế và người bệnh. Chất thải rắn và chất thải lỏng bệnh viện được quản lý chặt chẽ, xử lý an toàn và tuân thủ theo đúng quy định.
       - Hội đồng thuốc và điều trị và khoa Dược: Triển khai các hoạt động dược trong bệnh viện. Thực hiện cung ứng thuốc và vật tư y tế tiêu hao đầy đủ, kịp thời, bảo đảm chất lượng. Giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Phát triển công tác dược lâm sàng. Cùng HĐ KHKT và phòng KHTH xây dựng và giám sát việc thực hiện các phác đồ điều trị. Tích cực tiến hành công tác thông tin thuốc, theo dõi báo cáo ADR kịp thời, đầy đủ và có chất lượng.
       - CĐCS: đề xuất các hình thức XHH trang thiết bị y tế, liên doanh, liên kết. Đề xuất Ban Giám đốc triển khai các biện pháp nâng cao kỹ năng ứng xử, giao tiếp, y đức. Giám sát việc thực hiện chính sách tiền lương, thưởng, phụ cấp đối với CBVC bệnh viện. Soạn thảo quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế dân chủ cơ sở để thông qua Hội nghị cán bộ viên chức hàng năm. Đề xuất tổ chức các chương trình lễ hội, văn nghệ, thể dục thể thao.
       - Các khoa Lâm sàng: Sắp xếp bảo đảm bệnh nhân nằm mỗi người một giường. Giám sát các buồng vệ sinh đảm bảo sạch sẽ và hoạt động 24/24 giờ. Cung cấp các vật dụng sinh hoạt đang có của bệnh viện cho bệnh nhân. Sắp xếp khoa, phòng gọn gàng, ngăn nắp. Bác sĩ, điều dưỡng cung cấp thông tin cho người bệnh trong quá trình điều trị, tôn trọng bí mật riêng tư của người bệnh. Tư vấn cho bệnh nhân những kỹ thuật có kinh phí lớn. Tham gia thực hiện đánh giá sự hài lòng người bệnh. Tham dự các lớp cập nhật kiến thức, đào tạo liên tục, đào tạo lại, các lớp tập huấn kỹ năng ứng xử, giao tiếp, y đức và thực hiện ứng xử theo quy định. Đề xuất trang bị phòng ốc, bàn ghế, thiết bị bảo đảm điều kiện làm việc. Tham gia vào việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn điện và phòng chống cháy nổ ở khoa. Lập hồ sơ bệnh án đầy đủ, chính xác, khoa học. Điều trị bệnh tuân thủ theo phác đồ điều trị đã được hội đồng thuốc và điều trị, hội đồng KHKT thông qua. Thực hiện các quy định phòng ngừa sai sót, sự cố.
       - Các khoa, phòng khác: khoa Khám-cấp cứu sắp xếp phòng chờ cho người bệnh và thân nhân; cải tiến quy trình, thủ tục, thanh toán, khám bệnh; trang bị các phương tiện sẵn sàng cấp cứu. Thành lập Khoa Dinh dưỡng nhằm tổ chức thực hiện công tác dinh dưỡng và tiết chế; bảo đảm cơ sở vật chất thực hiện công tác dinh dưỡng; người bệnh được đánh gía, theo dõi tình trạng dinh dưỡng trong thời gian nằm viện; người bệnh được hướng dẫn, tư vấn chế độ ăn bệnh lý; được cung cấp chế độ dinh dưỡng phù hợp. Khoa CĐHA-CLS bảo đảm năng lực thực hiện các xét nghiệm, bảo đảm chất lượng kết quả. Khoa Sản và Khoa Nhi tổ chức chăm sóc sản khoa và sơ sinh, điều trị nhi khoa; thực hiện hoạt động truyền thông sức khỏe sinh sản trước sinh, trong khi sinh và sau sinh; tuyên truyền, tập huấn và thực hành tốt nuôi con bằng sữa mẹ.  
2. Nội dung cải tiến chất lượng bệnh viện:
      - Nâng cao năng lực hướng đến người bệnh:
       Cải tiến các bảng biểu chưa hoàn chỉnhcải tiến quy trình khám và điều trị bệnh, hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo, ngày càng thuận tiện và rút ngắn thời gian chờ đợi bằng các biện pháp giảm bớt các thủ tục, tăng thêm bàn khám bệnh, tăng cường điều trị ngoại trú các bệnh mãn tính, sắp xếp phòng khám BHYT riêng; phòng chờ khám bệnh cần trang bị thêm tiện nghi; tăng cường phương tiện cấp cứu người bệnh, mở rộng phòng ốc khu chờ với đầy đủ tiện nghi vào giai đoạn 2017-2018.
        Phấn đấu trước 2018: Giảm tình trạng bệnh nhân nằm giường tạm, nằm hành lang tiến tới tất cả giường bệnh trang bị đầy đủ, đồng nhất; thực hiện các biện pháp giảm quá tải bệnh nội trú và khám ngoại trú bằng cách sắp xếp kê thêm giường hành lang, tận dụng tối đa các phòng hành chánh, rút ngắn thời gian điều trị nội trú, xin tăng thêm chỉ tiêu giường nội trú, bác sĩ các khoa tăng cường khám sớm khi bệnh đông. Các buồng vệ sinh đầy đủ bồn rửa tay, xà phòng, dung dịch rửa tay; đủ tủ đầu giường cho từng bệnh nhân, đủ ghế ngồi cho người chăm sóc bệnh; phòng tắm có vòi sen; thiết lập hệ thống cho người khuyết tật đi xe lăn liên hoàn.
        Xây dựng khuôn viên bệnh viện thật sự mỹ quan, có vườn hoa, cây xanh;  khoa phòng được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp.
        Thực hiện việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào  quá trình điều trị. Phấn đấu trước 2017: Có đủ giường bệnh được thiết kế bảo đảm an toàn, tiện lợi cho người bệnh; người bệnh có khu vực cách ly tương đối yên tĩnh; đăng thông tin giá dịch vụ y tế trên website; giá thuốc, vật tư, bệnh viện thanh toán viện phí bằng thẻ tín dụng; giải quyết thắc mắc, khiếu nại có phân tích được các nhóm vấn đề, phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh; bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh được xây dựng đồng bộ cho toàn bệnh viện và bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy cao, phân tích sự hài lòng của người bệnh theo các khoa.
        - Phát triển nguồn nhân lực bệnh viện:
        Tăng cường tuyển dụng, đào tạo để đạt được mục tiêu, chỉ số nhân sự theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực phù hợp, đủ bác sĩ; thực hiện làm việc theo ca, kíp ở các khoa cần thiết như Hồi sức, Hậu phẫu, không còn nhân viên thường trực 24/24. Phấn đấu trước 2018: Đủ nhân lực xây dựng khoa dinh dưỡng, tách khoa ngoại chấn thương, khoa chuyên sâu về bệnh thận
        Tăng cường đào tạo bác sĩ sau đại học để đạt tỷ lệ đặt ra. Phấn đấu từ năm  2017 trở đi hàng năm tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ…tổ chức các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo.
         Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện  thiết thực và hiệu quả; giảm bớt ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt.
         Có cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng, phát huy hiệu quả. Tăng mức thu nhập tăng thêm qua từng năm; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động ngày càng hoàn thiện; phấn đấu tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho tập thể hàng năm, hoạt động văn nghệ thể thao thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe được quản lý bằng công nghệ thông tin; tổ chức khảo sát, hàng năm đánh giá nhân viên về môi trường làm việc.
         Quy hoạch dài hạn của bệnh viện được phê duyệt và công khai, mở rộng thêm quy mô giường bệnh bệnh viện; nâng cấp, thực hiện các kỹ thuật cao; triển khai, thực hiện tốt các văn bản của cấp trên; có quy định về đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản; lãnh đạo bệnh viện, khoa, phòng giảm bớt kiêm nhiệm nhiều công việc; cán bộ quản lý có đủ năng lực về tin học, ngoại ngữ đáp ứng cho công việc.
        - Cải tiến các hoạt động chuyên môn:
        Từ 2017 trở đi Bệnh viện trang bị thêm hệ thống camera an ninh tự động theo dõi của bệnh viện tại các nơi trọng yếu; không để xảy ra tình trạng mất trộm đối với bệnh nhân nằm viện; trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế; hệ thống báo cháy tự động đầy đủ tất cả các khoa, phòng; tham gia bảo hiểm cháy nổ.
        Từ 2017 trở đi Bệnh viện tiến hành thực hiện bệnh án điện tử, cập nhật bệnh án qua mạng nội bộ; bệnh nhân được mã hóa, các thông tin được lưu trữ toàn bộ trên hệ thống máy tính. Các chỉ số thông tin bệnh viện được đưa ra đánh giá, kết xuất trực tiếp từ phần mềm một cách chi tiết theo cơ cấu tài chính, thuốc, vật tư theo ngày, tuần, tháng, quý.
        Thiết lập công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo để trợ giúp cho lãnh đạo quản lý hoạt động bệnh viện. Triển khai áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; có phần mềm kết nối các máy y tế; đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế; thiết lập phần mềm dịch vụ đăng ký khám chữa bệnh từ xa.
       Kiện toàn khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn có đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát  thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện tiến hành thường xuyên; cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn; xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Tiến hành nghiên cứu về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; tính được tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhà lưu trữ rác đạt chuẩn quy định. Chất thải lỏng sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định.
        Tiến hành các biện pháp nhận dạng người bệnh tránh nhầm lẫn, tiến tới người bệnh  được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; thực hiện các biện pháp chống nhầm lẫn sai sót như thực hiện 3 tra 5 đối; quy định các hình thức nhận dạng người bệnh khi thực hiện phẫu thuật, thủ thuật; báo cáo định kỳ sai sót chuyên môn các khoa, phòng theo quy định, các sai sót được phát hiện cần có giải pháp khắc phục không để tái diễn. Tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến phải được Hội đồng KHKT bệnh viện thông qua, trình Sở Y tế phê duyệt, xem xét tăng dần hàng năm của tất cả các khoa và theo lộ trình nâng hạng bệnh viện, xem xét phát triển các kỹ thuật cao như mổ thay khớp háng, khớp gối, phẫu thuật đục thủy tinh thể bằng Phaco, phẫu thuật nội soi khớp, xét nghiệm Elisa, duy trì không để mai một các kỹ thuật đã thực hiện;  tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
        Điều dưỡng trưởng bệnh viện và các điều dưỡng trưởng khoa có trình độ đại học đạt cao; thực hiện việc  tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với tình trạng bệnh tật cho bệnh nhân khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện; thực hiện các chăm sóc như cho ăn uống, vận động, phục hồi chức năng do điều dưỡng/hộ lý thực hiện cho người bệnh có nhu cấu; người bệnh chăm sóc cấp I  được điều dưỡng chăm sóc toàn bộ; hỗ trợ chăm sóc thể chất và vệ sinh cá nhân cho người bệnh. Dán các vật liệu tăng ma sát ở các vị trí có nguy cơ trượt ngã; có đầy đủ giường bệnh an toàn. Trang bị và kiểm tra thường xuyên các phương tiện cấp cứu (bình oxy, khí nén, …); có hệ thống camera quan sát hoặc cán bộ y tế theo dõi bệnh nhân 24/24 đối với buồng bệnh cấp cứu.
        Thành lập và kiện toàn khoa Dinh dưỡng  vào năm 2016 có đầy đủ cán bộ theo cơ cấu; Hoàn thiện khoa dinh dưỡng có bộ phận chế biến thức ăn thiết kế một chiều; có tủ bảo quản thức ăn; có bác sĩ dinh dưỡng khám, đánh giá đối với bệnh nhân có vấn đề về dinh dưỡng; khoa dinh dưỡng hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát chế độ dinh dưỡng tại các khoa điều trị; cung cấp suất ăn bệnh lý đầy đủ theo chỉ định của các khoa lâm sàng trong giai đoạn 2017-2019.
         Phòng Xét nghiệm: Phấn đấu đào tạo để có cán bộ xét nghiệm trình độ sau đại học; năm 2018 trở đi có thể tham gia tư vấn về quản lý chất lượng phòng xét nghiệm cho đơn vị khác; có hoạt động thống kê, phân tích và tính độ lệch chuẩn về chất lượng các xét nghiệm, có khoa hoặc phòng thực hiện được giải phẫu bệnh riêng biệt vào năm 2017.
         Phấn đấu từ 2018 trở đi phụ trách khoa Dược có trình độ sau đại học; có cán bộ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc;  kiểm soát hoàn toàn lượng thuốc thông qua hệ thống phần mềm quản lý của bệnh viện, có phòng pha chế thuốc; có phần mềm theo dõi và quản lý lịch sử dụng thuốc của người bệnh. Bệnh viện có hệ thống lưu trữ thông tin thuốc, xây dựng và phát hành bản thông tin thuốc lưu hành trong bệnh viện. Triển khai xây dựng đầy đủ các văn bản quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện.   
          Thực hiện các đề tài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước; triển khai ứng dụng có hiệu quả các đề tài nghiên cứu của bệnh viện và của các đơn vị khác một cách hiệu quả, thiết thực.
       -Thực hiện các hoạt động cải tiến chất lượng
      Từ 2017 trở đi thành lập phòng Quản lý CLBV có nhân viên phòng tham gia học tập đào tạo về quản lý chất lượng; Hội đồng chất lượng bệnh viện lượng giá các kết quả đầu ra cụ thể đối với các tiêu chí chất lượng bệnh viện trong từng thời gian cụ thể.
         Từ năm 2016 trở đi: Quản lý sai sót, sự cố phải theo hệ thống riêng; có hình thức khuyến khích tự báo cáo sai sót. Tiến hành báo cáo đánh giá về sai sót, sự cố và phân tích xu hướng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế sai sót, sự cố; Áp dụng các kết quả phân tích, đánh giá vào việc triển khai các giải pháp hạn chế sai sót.
       Thực hiện tự đánh giá nội dung chất lượng bệnh viện một cách chính xác trung thực, tỷ lệ sai số nhỏ so với ngoại kiểm; thực hiện hoàn thành toàn bộ các chỉ số chất lượng đã nêu trong bản kế hoạch cải tiến chất lượng bệnh viện chung toàn bệnh viện; đóng góp ý kiến giá trị cho việc xây dựng quản lý chất lượng bệnh viện; tỷ lệ điểm đánh giá các tiêu chí chất lượng cải thiện, tăng lên hàng năm cho đến khi duy trì ở mức tốt.
       -Xây dựng các chuyên khoa đặc thù:
       Kiện toàn khoa sơ sinh riêng biệt; có bác sĩ chuyên khoa II hay tiến sĩ về sản, nhi; làm tờ rơi miễn phí tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản; tổ chức lớp học tiền sản, hậu sản; thành lập được phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản.
3. Biện pháp nâng cao nhận thức, tuyên truyền vận động nâng cao chất lượng bệnh viện trong toàn thể cán bộ viện chức.
       Theo quyết định số 4858/QĐ-BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện với quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị. Theo quyết định bệnh viện phải lập hội đồng chất lượng bệnh viện là đơn vị lập đề án, chương trình, kế hoạch và chỉ đạo các hoạt động nâng cao chất lượng bệnh viện. Đây là công việc hoàn toàn mới đối với các bệnh viện so với cách tiến hành kế hoạch và đánh giá trước đây nên việc triển khai thực hiện gặp khó khăn do chưa có kinh nghiệm, thiếu nhân sự...Do đó phải thực hiện các giải pháp nâng cao nhận thức, hội thảo chuyên đề, bồi dưỡng tập huấn về nội dung nâng cao chất lượng bệnh viện để nâng cao năng lực tiến hành cải tiến, nâng cao các nội dung theo Bộ tiêu chí. Các nội dung tuyên truyền, vận động gồm:
       - Cung cấp nội dung bộ tiêu chí đến tất cả các khoa, phòng để tất cả các khoa, phòng thông suốt, hiểu đúng và triển khai đúng, có căn cứ để triển khai thực hiện.
       - Tham gia các lớp tập huấn do tuyến trên tổ chức nhằm tiếp thu kiến thức, chỉ đạo, học tập kinh nghiệm của các đơn vị.
       -  Thường xuyên tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị chuyên đề để thu thập ý kiến của cán bộ viên chức các khoa phòng, các cán bộ chủ chốt của đơn vị; tuyên truyền và tạo phong trào hành động xây dựng chất lượng bệnh viện rộng khắp trong toàn bệnh viện. Xây dựng chất lượng bệnh viện cần phải có sự tham gia của toàn thể cán bộ viên chức bệnh viện, ngay từ khâu lập kế hoạch, xây dựng đề án cho đến khi triển khai thực hiện để thể hiện bằng hành động .
        - Nâng cao chất lượng bệnh viện là một nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện cần một cuộc vận động sâu rộng trong toàn thể cán bộ viên chức; yếu tố đồng thuận cao sẽ góp phần quan trọng cho sự thành công gủa đề án.
        - Đảng ủy, Công đoàn cơ sở, Đoàn Thanh niên vận động để đảng viên, đoàn viên các đoàn thể tích cực tham gia xây dựng chất lượng bệnh viện.
4. Nhu cầu vốn đầu tư nâng cao chất lượng bệnh viện.
       -Vốn đầu tư nâng cao chất lượng bệnh viện được tranh thủ từ nhiều nguồn nhằm từng bước nâng cao các tiêu chí qua từng năm. Nguồn đầu tư gồm: vốn theo chương trình mục tiêu của cấp trên; quỹ đầu tư phát triển của bệnh viện; xã hội hóa và các nguồn đóng góp, tài trợ…
       - Về cơ cấu nguồn vốn:
       *Vốn ngân sách: là nguồn vốn chủ yếu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và sữa chữa lớn gồm xây dựng xong hạ tầng bệnh viện mới quy mô 500 giường với tổng vốn là 495.228.000.000 đồng từ nguồn trái phiếu chính phủ, đang xin đầu tư trang thiết bị từ nguồn vốn ODA Hungary với tổng vốn 15 triệu USD.
       *Vốn từ quỹ đầu tư phát triển của bệnh viện chủ yếu để sữa chữa nhỏ, mua các trang thiết bị thiết yếu dự kiến khoảng 5 tỷ đồng.
       *Vốn xã hội hóa từ nguồn hợp tác với các cơ quan, đơn vị  cá nhân để nâng cao năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn như: thận nhân tạo, phẫu thuật phaco, phẫu thuật nội soi khớp, tiết niệu…khoảng 5 tỷ đồng.
       *Các nguồn đóng góp tài trợ khoảng 03 tỷ đồng.
5. Phát động phong trào thi đua.
       Hội đồng chất lượng bệnh viện sẽ phát động phong trào thi đua “Nâng cao chất lượng bệnh viện” trong toàn bệnh viện hàng năm, tạo phong trào thi đua sôi nổi giữa các khoa, phòng, các đơn vị; đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của toàn thể cán bộ viên chức nhằm phát huy tối đa nguồn lực, thực hiện thắng lới các kế hoạch, chương trình, đề án nâng cao chất lượng bệnh viện.
       Từng khoa, phòng, đơn vị phát động phong trào thi đua nâng cao chất lượng bệnh viện bằng những nội dung cụ thể, sát hợp, khả thi. Hội đồng chất lượng bệnh viện tổ chức khen thưởng thường xuyên, đột xuất cho những cá nhân, tập thể thực hiện tốt việc cải tiến các nội dung tiêu chí chất lượng theo kế hoạch trong quá trình đánh giá, kiểm tra, giám sát.
 
 
V. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN.
 -Năm 2014: nâng từ 191 điểm, xếp loại đạt, trong đó 20,5% tiêu chí mức 1
 -Năm 2015: đạt tối thiểu 210 điểm, xếp loại đạt, trong đó 10% tiêu chí mức 1
 -Năm 2016: đạt tối thiểu 230 điểm, xếp trung bình, trong đó 0% tiêu chí mức 1
 -Năm 2017: đạt tối thiểu 240 điểm, xếp loại khá, trong đó 0% tiêu chí mức 1 và có 68 tiêu chí từ mức 3 trở lên.
 -Năm 2018: đạt tối thiểu 260 điểm, xếp loại khá, trong đó chỉ còn 10% tiêu chí mức 2 và có 76 tiêu chí từ mức 3 trở lên.
-Năm 2019: đạt tối thiểu 270 điểm, xếp loại tốt, trong đó 0% tiêu chí mức 2 và có 17 tiêu chí từ mức 4 trở lên.
-Năm 2020: đạt tối thiểu 280 điểm, xếp loại tốt, trong đó có trên 20%tiêu chí từ mức 4 trở lên.
 
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
 
         1. Hội đồng chất lượng bệnh viện tiến hành lập đề án nâng cao chất lượng bệnh viện. Sau đó lấy ý kiến của các khoa, phòng, các đơn vị và tất cả cán bộ viên chức bệnh viện, chỉnh sửa cho hoàn chỉnh thông qua hội đồng góp ý trước khi chủ tịch hội đồng phê duyệt.  
         2. Hội đồng chất lượng bệnh viện giao cho lãnh đạo các khoa, phòng, các đơn vị căn cứ trên đề án tổng thể này mà chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thật cụ thể trên từng tiêu chí mà mình phụ trách, có kế hoạch về thời gian hoàn thành từng tiêu chí. Đề ra các quy định, hướng dẫn để thực hiện theo nội dung tiêu chí.
        3. Đảng ủy, Công đoàn Cơ sở, Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh vận động đảng viên, cán bộ viên chức tích cực tham gia thực hiện đề án, tạo ra phong trào mạnh mẽ, rộng khắp.
        4. Tổ chất lượng bệnh viện là đơn vị thường trực thực hiện đề án chất lượng bệnh viện; điều phối chương trình xây dựng chất lượng bệnh viện, chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện thật cụ thể đến các khoa, phòng đơn vị.
        5. Định kỳ hàng quý họp hội đồng chất lượng bệnh viện để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đồng thời để tăng cường trách nhiệm và kịp thời theo dõi các hoạt động của các khoa, phòng, đơn vị.
                                                      
                  Kết luận
 
     Chất lượng bệnh viện hiện nay không chỉ là yêu cầu từ phía người bệnh mà còn là đòi hỏi nội tại từ mỗi bệnh viện. Nâng cao chất lượng từ con người, đồng thời có quy trình hợp lý để từng bước nâng cao chất lượng bệnh viện nhằm thu hút và giữ được người bệnh, tạo được uy tín cho bệnh viện. Hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng bệnh viện phải tiến hành đồng loạt ở tất cả các khoa, phòng, đơn vị trong toàn bệnh viện; phải kế thừa, lồng ghép với các hoạt động chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện và các khoa, phòng.
 
 
Nơi nhận:
- BGĐ, các khoa phòng,   thành viên Tổ QLCLBV; HĐ CLBV, website, 
- Lưu: VT, KHTH, TCCB
 
DUYỆT GIÁM ĐỐC
 
 
Đã ký
 
TS. Huỳnh Văn Thiên
  TM. TỔ QLCLBV
                    Tổ trưởng                  
 
Đã ký
        
Ths.BS Huỳnh Ngọc Thành

Tác giả bài viết: Ths Huỳnh Ngọc Thành

Nguồn tin: Phòng KHTH Bệnh viện II Lâm Đồng:

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Giới thiệu Bệnh viện II Lâm Đồng

  Bệnh viện II Lâm Đồng được thành lập từ năm 1984 theo Quyết Định số 30/QĐ-TCUB ngày 17 tháng 01 năm 1984 Của UBND tỉnh Lâm Đồng. Hiên tại là bệnh viện đa khoa hạng II, là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân 6 huyện thị phía nam tỉnh Lâm Đồng. Hiện tại có đội ngũ cán bộ chuyên khoa có...

HOC TAP TAM GUONG HO CHI MINH
Thăm dò ý kiến

Quý khách đánh giá thế nào về thái độ phục vụ của nhân viên y tế tại BV ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 600 giây