HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ LIPID MÁU CỦA AACE/ACE 2017

Thứ năm - 15/06/2017 23:54
Hướng dẫn mới nhất từ Hiệp hội Bác sĩ Nội tiết Hoa Kỳ (AACE) và Trưởng Ban Nội tiết Hoa Kỳ (ACE) đã quay trở lại điều trị theo LDL-cholesterol mục tiêu và bao gồm khuyến cáo cho nhóm đối tượng mới có nguy cơ cực kì cao.
tải xuống (2)
tải xuống (2)
BỆNH VIỆN II LÂM ĐỒNG
HỘI ĐỒNG THUỐC & ĐIỀU TRỊ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
  Bảo Lộc, ngày      tháng 06 năm 2017
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ LIPID MÁU CỦA AACE/ACE 2017
Hướng dẫn mới nhất từ Hiệp hội Bác sĩ Nội tiết Hoa Kỳ (AACE) và Trưởng Ban Nội tiết Hoa Kỳ (ACE) đã quay trở lại điều trị theo LDL-cholesterol mục tiêu và bao gồm khuyến cáo cho nhóm đối tượng mới có nguy cơ cực kì cao.

1. Điểm mới trong hướng dẫn của AACE/ACE

 Phân loại bệnh nhân theo 5 nhóm nguy cơ của bệnh tim mạch do xơ vữa (BTMDXV), các nhóm nguy cơ được trình bày trong bảng sau:
Nhóm nguy cơ Định nghĩa Mục tiêu điều trị
Nguy cơ cực kì cao BTMDXV tiến triển (bao gồm cả đau thắt ngực không ổn định) ở bệnh nhân sau khi đã đạt mức LDL < 70 mg/dL.
BTMDXV đã được xác định trên lâm sàng ở bệnh nhân có kèm đái tháo đường, bệnh thận mạn giai đoạn 3/4, hoặc tăng cholesterol gia đình dị hợp tử.
Tiền sử mắc BTMDXV sớm, cụ thể < 55 tuổi ở nam và < 65 tuổi ở nữ.
LDL < 55 mg/dL
non-HDL < 80 mg/dL
Apolipoprotein B (apoB) < 70 mg/dL
Nguy cơ rất cao Đã từng hoặc đang nhập viện do hội chứng mạch vành cấp, bệnh mạch vành, bệnh mạch cảnh hoặc bệnh mạch máu ngoại vi kèm nguy cơ 10 năm > 20%.
Đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn giai đoạn 3/4, kèm ≥ 1 yếu tố nguy cơ.
Tăng cholesterol gia đình dị hợp tử.
LDL < 70 mg/dL
non-HDL < 80 mg/dL
apoB < 80 mg/dL
Nguy cơ cao Nhiều hơn 1 yếu tố nguy cơ, kèm nguy cơ 10 năm 10-20%.
Đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn giai đoạn 3/4, không kèm theo yếu tố nguy cơ.
LDL < 100 mg/dL
non-HDL < 130 mg/dL
apoB < 90 mg/dL
Nguy cơ trung bình Nhiều hơn 1 yếu tố nguy cơ, kèm nguy cơ 10 năm < 10%. Tương tự nhóm nguy cơ cao
Nguy cơ thấp Không có yếu tố nguy cơ. LDL < 130 mg/dL
non-HDL < 160 mg/dL

2. Các công cụ đánh giá nguy cơ

 AACE/ACE đề nghị 4 công cụ sau để đánh giá nguy cơ 10 năm của bệnh nhân, bao gồm:
  • The Framingham Risk Assessment Tool
  • The Multi-Ethnic Study of Atherosclerosis (MESA) 10-year ASCVD Risk with Coronary Artery Calcification Calculator
  • The Reynolds Risk Score: thang đo này bao gồm cả chỉ số CRP-hs và tiền sử BTMDXV của bệnh nhân.
  • The United Kingdom Prospective Diabetes Study (UKPDS) risk engine: dành cho các bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

3. Bằng chứng sử dụng cho hướng dẫn mới

Thử nghiệm IMPROVE-IT 2014 (Improved Reduction of Outcomes: Vytorin Efficacy International Trial) đã làm rõ lợi ích của việc kiểm soát lipid chặt chẽ ở những người có nguy cơ rất cao hoặc cực kì cao.
Một vài phân tích tổng hợp trước đó cũng đã chỉ ra được điều này bao gồm nghiên cứu Cholesterol Treatment Trialists Collaboration năm 2010 và một phân tích gộp 8 thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu về liệu pháp statin: tất cả đều cho thấy lợi ích từ việc giảm LDL-C tới mức 50 mg/dL hoặc thậm chí mức thấp hơn.
Vào tháng 3/2017, thử nghiệm FOURIER đã cho thấy khi kết hợp evolocumab, một chất ức chế PCSK9, statin đã làm giảm đáng kể các biến cố tim mạch chính, nhưng không làm giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch cũng như tử vong do mọi nguyên nhân. Kết quả này đạt được thông qua việc giảm LDL-C tới mức 30 mg/dL (giá trị trung bình).
GS.BS Jellinger phát biểu trong một cuộc họp báo:
  • Có thể nói, thử nghiệm IMPROVE-IT đã thành công và định hướng lại các hướng dẫn mới và rồi thử nghiệm FOURIER đã hoàn toàn xác nhận lại hướng dẫn mới của AACE.
  • Về FOURIER: ông cho rằng thử nghiệm này là một bước tiến lớn, tuy nhiên giá trị lâu dài cần phải chờ đến khi có được các dữ liệu dài hạn về việc giảm tỷ lệ tử vong.
GS.BS Robinson bình luận:
  • Mặc dù có sự giảm bớt nguy cơ từ việc thêm ezetimibe hoặc một kháng thể đơn dòng kháng PCSK9, vẫn chưa có một thử nghiệm lâm sàng nào so sánh việc điều chỉnh với các mức LDL-C mục tiêu khác nhau.
  • Các mức mục tiêu LDL-C không được dựa trên chứng cứ như nhóm hướng dẫn mới khẳng định; việc điều chỉnh đến mục tiêu cũng thất bại khi cân nhắc đến lợi ích của từng cá nhân.

4. Vấn đề chi phí và hiệu quả

Hướng dẫn của AACE/ACE cũng bao gồm việc thảo luận về chi phí-hiệu quả của các biện pháp hạ lipid khác nhau.
Nhìn chung, statin chứng minh được chi phí-hiệu quả tốt nhất, cả trong phòng ngừa nguyên phát và thứ phát các biến cố do BTMDXV ở bệnh nhân có nguy cơ trung bình đến cao hoặc đối tượng có mức LDL-C ≥ 190 mg/dL.
Việc phối hợp ezetimibe với statin ở những người không thể đạt được mức LDL-C mục tiêu chưa được đánh giá về chi phí-hiệu quả ở Mỹ, mặc dù các nghiên cứu ở Canada và Anh cho thấy ezetimibe có mức chi phí-hiệu quả tốt, đặc biệt khi dùng thuốc generic.
TS.BS Handelsman chú ý rằng: ở nhóm mới có nguy cơ cực kì cao, khả năng xảy ra các biến cố tim mạch có thể lên đến 10-14% / năm, hay 45-50% trong 5 năm. Do đó, ông cho rằng những bệnh nhân ở nhóm này đang sử dụng liệu pháp kết hợp thuốc nhiều khả năng sẽ cải thiện được phần nào vấn đề chi phí-hiệu quả.
Tuy nhiên, GS.BS Robinson lại nhìn nhận theo một hướng khác: Hãy nhìn vào số tiền bệnh nhân phải trả, con số là rất lớn để bệnh nhân có thể được cứu chữa và có lẽ còn lớn hơn nữa để giúp họ sống sót.
  • Hầu hết bệnh nhân không thể đạt được mức LDL-C dưới 55 mg/dL từ việc thêm ezetimibe vào phác đồ, trừ khi mức LDL-C ban đầu của họ đã dưới 65 mg/dL. Thêm kháng thể kháng PCSK9 có thể phòng ngừa các biến cố nhiều hơn, nhưng với mức giá hiện tại, thuốc này không cho thấy lợi ích chi phí-hiệu quả ở bất cứ nhóm nguy cơ nào.
 Tài liệu tham khảo
Jellinger PS, et al. American Association of Clinical Endocrinologists and American College of Endocrinology Guidelines for Management of Dyslipidemia and Prevention of Cardiovascular Disease. 2017.
Nguồn tham khảo
https://thongtinthuoc.com/tin_tuc/huong-dan-dieu-tri-roi-loan-lipid-mau-cua-aace-2017.html
 
                                                                                                                                               CHỦ TỊCH HĐT&ĐT
PHẠM NGỌC THI

Tác giả bài viết: KHOA DƯỢC

Nguồn tin: thongtinthuoc.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Giới thiệu Bệnh viện II Lâm Đồng

  Bệnh viện II Lâm Đồng được thành lập từ năm 1984 theo Quyết Định số 30/QĐ-TCUB ngày 17 tháng 01 năm 1984 Của UBND tỉnh Lâm Đồng. Hiên tại là bệnh viện đa khoa hạng II, là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân 6 huyện thị phía nam tỉnh Lâm Đồng. Hiện tại có đội ngũ cán bộ chuyên khoa có...

HOC TAP TAM GUONG HO CHI MINH
Thăm dò ý kiến

Quý khách đánh giá thế nào về thái độ phục vụ của nhân viên y tế tại BV ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 600 giây